Chào mừng đến với trang thông tin và mua sắm BNQ Global!

Giỏ hàng của bạn đang trống

Tiếp tục mua hàng

Quản lý gỗ nhập khẩu, xuất khẩu

​Gỗ nhập khẩu phải bảo đảm hợp pháp, được làm thủ tục xuất, nhập khẩu và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan được thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị định số 102/2020/NĐ-CP.


Nhằm giảm thiểu tác động thiệt hại trước những rủi ro thương mại của ngành gỗ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 102/2020/NĐ-CP quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam. Trong đó có nhiều quy định mới, cụ thể nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu từ Việt Nam ra nước ngoài và nhập khẩu gỗ từ nước ngoài vào Việt Nam.


Quản lý hoạt động nhập khẩu gỗ


Gỗ nhập khẩu được thực hiện trên cơ sở áp dụng biện pháp quản lý rủi ro để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm gỗ nhập khẩu hợp pháp, đồng thời khuyến khích, tạo thuận lợi đối với tổ chức, cá nhân tuân thủ pháp luật.


Gỗ nhập khẩu được quản lý rủi ro theo các tiêu chí xác định quốc gia thuộc vùng địa lý tích cực hoặc không tích cực, loại gỗ thuộc loại rủi ro hoặc không thuộc loại rủi ro theo quy định.


Quốc gia thuộc vùng địa lý tích cực xuất khẩu gỗ vào Việt Nam phải bảo đảm một trong các tiêu chí sau:


- Có Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp và cấp giấy phép FLEGT đang vận hành;


- Có quy định pháp luật quốc gia về trách nhiệm giải trình tính hợp pháp của gỗ cho toàn bộ chuỗi cung ứng từ quốc gia nơi khai thác phù hợp với Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam;


- Có chỉ số hiệu quả Chính phủ từ 0 trở lên theo xếp hạng gần nhất trước đó của Ngân hàng thế giới về chỉ số quản trị toàn cầu (WGI); có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thực thi CITES được xếp loại I do ban thư ký CITES công bố và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Quốc gia đã ký Hiệp định song phương với Việt Nam về gỗ hợp pháp hoặc Quốc gia có hệ thống chứng chỉ gỗ quốc gia được Việt Nam công nhận là đáp ứng tiêu chí gỗ hợp pháp theo quy định.


Tiêu chí xác định loại gỗ rủi ro nhập khẩu vào Việt Nam gồm:


- Gỗ thuộc các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (sau đây viết tắt là Phụ lục CITES);


- Gỗ thuộc Danh mục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA, Nhóm IIA; Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của pháp luật Việt Nam;


- Gỗ lần đầu nhập khẩu vào Việt Nam;


- Gỗ có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng tại quốc gia khai thác hoặc buôn bán trái phép do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Ngoại giao, các bộ, ngành có liên quan và tổ chức được quy định trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên xác định.


Chủ gỗ nhập khẩu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về: Nguồn gốc hợp pháp của gỗ nhập khẩu theo các quy định pháp luật có liên quan của quốc gia nơi khai thác gỗ; tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về cung cấp thông tin theo tiêu chí đánh giá vùng địa lý tích cực xuất khẩu gỗ vào Việt Nam và tiêu chí xác định loại gỗ rủi ro nhập khẩu vào Việt Nam theo quy định…


Gỗ hợp pháp là gỗ, sản phẩm gỗ được khai thác, nhập khẩu, xử lý tịch thu, vận chuyển, mua bán, chế biến, xuất khẩu phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, các quy định liên quan của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật có liên quan của quốc gia nơi khai thác gỗ xuất khẩu vào Việt Nam.


Khi làm thủ tục Hải quan đối với lô hàng gỗ nhập khẩu, ngoài bộ hồ sơ Hải quan theo quy định của pháp luật về Hải quan, chủ gỗ nhập khẩu phải nộp cho cơ quan Hải quan nơi đăng ký tờ khai Bản chính bảng kê gỗ nhập khẩu do chủ gỗ lập theo Mẫu quy định và một trong các tài liệu sau:


- Bản sao giấy phép CITES xuất khẩu hoặc tái xuất khẩu do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES nước xuất khẩu hoặc nước tái xuất khẩu cấp; Bản sao giấy phép CITES nhập khẩu do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam cấp (đối với Trường hợp gỗ thuộc Phụ lục CITES) hoặc


- Bản sao giấy phép FLEGT xuất khẩu do cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu cấp (đối với trường hợp gỗ nhập khẩu từ quốc gia đã ký kết Hiệp định gỗ hợp pháp với EU và đang vận hành hệ thống cấp phép FLEGT) hoặc


- Bảng kê khai nguồn gốc gỗ nhập khẩu theo Mẫu quy định (đối với trường hợp gỗ không thuộc Phụ lục CITES và không được nhập khẩu từ quốc gia đã ký kết Hiệp định gỗ hợp pháp với EU và đang vận hành hệ thống cấp phép FLEGT).


Hồ sơ khi mua bán, chuyển giao quyền sở hữu gỗ nhập khẩu: Trường hợp chủ gỗ nhập khẩu bán toàn bộ hoặc một phần lô hàng gỗ nhập khẩu cho một hay nhiều chủ gỗ khác: Chủ gỗ nhập khẩu lập bảng kê gỗ trích từ bảng kê gỗ nhập khẩu, sao hồ sơ gỗ nhập khẩu và ký xác nhận, đóng dấu (nếu có) giao cho chủ gỗ mua và lưu hồ sơ gốc gỗ nhập khẩu; Trường hợp chủ gỗ mua nêu trên bán toàn bộ hoặc một phần lô hàng gỗ nhập khẩu cho chủ gỗ khác: Chủ gỗ bán lập bảng kê gỗ trích từ bảng kê mua trước đó, sao hồ sơ gỗ nhập khẩu và ký xác nhận, đóng dấu (nếu có) giao cho chủ gỗ mua và lưu giữ bản sao;...


Quản lý hoạt động xuất khẩu gỗ


Gỗ xuất khẩu phải đảm bảo hợp pháp, được làm thủ tục xuất khẩu và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật về Hải quan.


Gỗ xuất khẩu được quản lý theo loại gỗ, thị trường xuất khẩu và trên cơ sở kết quả phân loại doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ.


Gỗ xuất khẩu phải có giấy phép CITES hoặc giấy phép FLEGT hoặc bảng kê gỗ theo quy định.


Lô hàng gỗ xuất khẩu đã được cấp phép FLEGT được ưu tiên trong việc thực hiện thủ tục Hải quan theo quy định của pháp luật về Hải quan.


Giấy phép FLEGT được cấp cho một lô hàng gỗ hợp pháp theo quy định của một chủ gỗ xuất khẩu hoặc tạm nhập, tái xuất đến cửa khẩu nhập khẩu đầu tiên vào thị trường EU. Một lô hàng gỗ xuất khẩu vào thị trường EU chỉ được cấp một giấy phép FLEGT và được cấp trước thời điểm đăng ký tờ khai hải quan. Giấy phép FLEGT được cấp theo hình thức giấy phép điện tử. Trường hợp không thể thực hiện cấp phép điện tử hoặc theo yêu cầu của chủ gỗ thì thực hiện cấp giấy phép FLEGT bằng bản giấy, sau đó phải cập nhật trên hệ thống cấp phép điện tử. Cơ quan cấp giấy phép lưu giữ và gửi bản sao chụp điện tử của giấy phép FLEGT đã cấp cho cơ quan có thẩm quyền về FLEGT của nước nhập khẩu thuộc EU...


Giấy phép FLEGT sẽ bị thu hồi nếu chủ gỗ tự nguyện trả lại; hoặc khi giấy phép FLEGT hết hạn nhưng chủ gỗ không xuất khẩu hoặc không đề nghị gia hạn giấy phép; hoặc khi chủ gỗ có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lô hàng xuất khẩu bị phát hiện sau khi được cấp giấy phép; hoặc khi chủ gỗ có hành vi gian lận thông tin liên quan đến giấy phép FLEGT đã được cấp.


Lô hàng gỗ có nguồn gốc từ gỗ rừng trồng trong nước xuất khẩu sang thị trường ngoài EU thì không cần xác nhận nguồn gốc gỗ trước khi xuất khẩu.


Lô hàng gỗ xuất khẩu của chủ gỗ không phải là doanh nghiệp Nhóm I phải xin xác nhận nguồn gốc gỗ của cơ quan Kiểm lâm sở tại trước khi xuất khẩu.


Hồ sơ gỗ xuất khẩu


Khi làm thủ tục Hải quan đối với lô hàng gỗ xuất khẩu, ngoài bộ hồ sơ Hải quan theo quy định của pháp luật về Hải quan, chủ gỗ phải nộp cho cơ quan Hải quan nơi đăng ký tờ khai một trong các chứng từ sau:


- Bản chính hoặc bản sao bản điện tử giấy phép CITES xuất khẩu do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam cấp (đối với trường hợp gỗ thuộc Phụ lục CITES);


- Bản chính hoặc bản sao bản điện tử giấy phép FLEGT đối với trường hợp gỗ không thuộc Phụ lục CITES được xuất khẩu sang thị trường EU;


- Bản chính bảng kê gỗ xuất khẩu do chủ gỗ lập đối với trường hợp gỗ không thuộc Phụ lục CITES của chủ gỗ là doanh nghiệp Nhóm I được xuất khẩu sang thị trường ngoài EU;


- Bản chính bảng kê gỗ xuất khẩu do chủ gỗ lập có xác nhận của cơ quan Kiểm lâm sở tại theo quy định đối với trường hợp gỗ không thuộc Phụ lục CITES của chủ gỗ không phải là doanh nghiệp Nhóm I được xuất khẩu sang thị trường ngoài EU...


Nghị định 102/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 30/10/2020. Nghị định này thực thi sẽ tạo ra hành lang pháp lý vững chắc, vừa đảm bảo quản lý chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng và hoạt động thương mại gỗ nói chung được vừa tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại chủ gỗ.


Theo tiêu chí phân loại doanh nghiệp quy định tại Điều 12 Nghị định 102/2020/NĐ-CP, doanh nghiệp được phân chia thành Doanh nghiệp Nhóm I và Doanh nghiệp Nhóm II, cụ thể như sau:


Doanh nghiệp Nhóm I là những doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau đây:


1- Tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật trong việc thành lập và hoạt động ít nhất 1 năm kể từ ngày đăng ký thành lập doanh nghiệp;


2- Tuân thủ quy định pháp luật về bảo đảm hỗ hợp pháp theo quy định của Nghị định này và quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quản lý, truy xuất nguồn gỗ lâm sản;


3- Tuân thủ chế độ báo cáo theo quy định và lưu giữ hồ sơ gốc theo quy định của pháp luât;


4- Không vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý theo quy định;


5- Các tiêu chí tại điểm 1 và 2 trên được quy định chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.


Doanh nghiệp Nhóm II là doanh nghiệp chưa đáp ứng được một trong các tiêu chí của Doanh nghiệp Nhóm I quy định ở trên.

Nguồn: https://www.customs.gov.vn/Lists/TinHoatDong/ViewDetails.aspx?ID=30054&Category=H%C6%B0%E1%BB%9Bng%20d%E1%BA%ABn%20th%E1%BB%B1c%20hi%E1%BB%87n%20CSPLHQ

Bình luận

Category